Thứ Ba, 21 tháng 3, 2017

Dịch Gia Phả

Dịch Thuật Quang Huy chuyên  đảm nhân dịch gia phả , phả đồ dòng họ, hoành phi, bia mộ, cáo trạng, sớ, sách lịch sử dòng họ bằng tiếng Hán Nôm với nhiều cách viết khó và khó luận chúng tôi cam kết mang lại bản dịch hoàn hảo nhất, giải nghĩa đầy đủ nhất.liên hệ ngay 0976681815.
Dịch gia phả luận  chữ giải nghĩa rõ ràng
Dịch và đóng quyển gia Phả thiết kế đẹp để lưu hồ sơ cho gia tộc
Bản dịch của chúng  tôi luôn được đánh giá về chất lượng


Dịch Câu Đối 

Nói đến gia phả của dòng tộc chúng ta nghĩ ngay đến một cuốn sách hình chữ nhật bằng tiếng Hán nôm và khó có thể luận ra nếu không có chuyên gia về ngôn ngữ, liệu bạn sẽ nghĩ đến việc mang đến viện ngôn ngữ học hay mang đến một chuyên gia nào đó để giải nghĩa cho toàn bộ nội dung trong cuốn sách ?
Dịch gia phả, phả hệ, hoành phi, sớ, cáo trạng, bia mộ khắc hao mòn
Dịch Thuật Quang Huy chuyên dịch từ tiếng Hán sang tiếng Việt, Dịch Thuật Quang Huy chính là nơi bạn có thể gửi gắm tất cả những cuốn sách có liên quan đến ngôn ngữ Hán nôm,
chúng tôi có đủ các chuyên gia về ngôn ngữ có thể dịch nghĩa, giải nghĩa chính xác các loại gia phả hay phả hệ mà bạn cần, là đơn vị đi đầu trong lĩnh vực dịch tiếng hán nôm.
Dịch Thuật Quang Huy  đã và đang trở thành công ty dịch thuật chuyên nghiệp cung cấp tất cả các dịch vụ dịch thuật đáp ứng nhu cầu của tất cả các khách hàng.
Với hàng ngàn bộ, cuốn gia phả được chúng tôi đảm nhân dịch thông suốt, có giải nghĩa chính xác, cung cấp các thông tin đầy đủ về niên đại, năm, thời gian trong một cuốn gia phả,
Công ty dịch thuật Dịch Thuật Quang Huy cam kết đem lại những bản dịch gia phả chuẩn xác nhất cho khách hàng , mang lại những cái nhìn sâu sắc về nội dung xưa mà cha ông, dòng họ của quý khách hàng đã trải qua hàng trăm năm.
Dịch tiếng hán nôm cho những cuốn gia hả có nhiều niên đại khác nhau, nghiên cứu chuyên sâu về tiếng hán Cổ.
Dịch gia phả với nội dung chuẩn, giải nghĩa chính xác
Với nhiều dạng gia phả bằng tiếng hán nôm theo nhiều cách viết khác nhau, DỊCH SỐ có thể đảm nhận dịch gia phả sang tiếng việt chính xác theo nhiều cách viết, từ lối viết chữ thảo cho đến chữ hán thông thường chúng tôi đều có thể giải nghĩa và cung cấp nội dung chính xác theo lịch sử tiến trình được ghi chép tỉ mỉ và cẩn thận.
DỊCH GIA PHẢ CHUYÊN NGHIỆP HÀNG ĐẦU

Thứ Hai, 7 tháng 3, 2016

Dịch tiếng Hán nôm

Hán – Nôm là thuật ngữ chỉ đến các văn bản tại Việt Nam trước khi chữ Quốc ngữ thay thế các dạng chữ biểu ý.
Chữ Hán được người Việt dùng và phát triển thêm nhưng cách phát âm chữ Hán lại bị chi phối bởi cách phát âm của người Việt, tạo ra và củng cố dần âm Hán – Việt. Do nhu cầu phát triển, người Việt đã sử dụng chữ Hán để tạo ra chữ viết riêng, tức là chữ Nôm.dịch tiếng hán nôm
 dich tieng han nom
10 năm kinh nghiệm dịch tiếng Hán Nôm
Sau khi chữ Quốc ngữ được phổ biến vào đầu thế kỷ 20, chữ Nôm dần đân bị mai một, tàn lụi trong bối cảnh tiến trình Âu hóa ngày càng mạnh ở Việt Nam. Từ đó, di sản chữ Nôm về mặt kiến thức cũng như văn tịch cổ ngày càng bị đe họa có nguy cơ mất hẳn.
Ngày nay, ở Việt Nam và cả thế giới có rất ít người còn đọc được văn bản chữ Nôm nguyên tác. Hậu quả là một phần quan trọng của lịch sử và văn học Việt Nam đã nằm ngoài tầm tay của 80 triệu người nói tiếng Việt.
Nếu bạn hoạt động trong các lĩnh vực nghiên cứu lịch sử, văn hóa, văn thơ Việt cổ thì sẽ thường xuyên gặp phải những khó khăn về Hán – Nôm.
Qua tìm hiểu thực tế, chữ Hán-Nôm khó nên người đọc, viết, dịch được loại chữ này không nhiều ở Việt Nam. Nhưng, dịch được không có nghĩa là dịch hay, dịch đúng. Các văn bản Hán Nôm ghi chép lại mọi vấn đề của cuộc sống, liên quan đến nhiều ngành khoa học khác. Muốn nghiên cứu, tìm hiểu về quá khứ của dân tộc thường phải dựa vào các văn bản dịch. Người nghiên cứu sử dụng văn bản dịch không chính xác vào quá trình nghiên cứu dẫn đến kết quả nghiên cứu không đúng.
DỊCH TIẾNG HÁN NÔM TIÊU CHUẨN
 Dich tieng han nom
DỊCH THUẬT TIẾNG HÁN NÔM SANG TIẾNG VIỆT VỚI ĐỘ CHÍNH XÁC 100%.
Nắm bắt được điều này, Công ty dịch thuật Quang Huy  cung cấp các dịch vụ dịch thuật tiếng Hán Nôm,
Đội Ngũ Biên Dịch:
Chúng tôi có đội ngũ biên dịch viên giàu kinh nghiệm về chữ Hán Nôm, quý khách có thể lựa chọn các hình thức dịch thuật công chứng lấy ngay, dịch thuật giá rẻ .. và có thể hoàn toàn yên tâm về chất lượng, thời gian nhanh chóng và chính xác.
Giapha-02
Dịch gia phả tiếng hán nôm
Các tài liệu thường xuyên dịch hán nôm:
+ GIA PHẢ
+BIA MỘ,LĂNG TẨM
+ CÂU ĐỐI
+ DỊCH THƠ HÁN NÔM,
+ TÀI LIỆU Y HỌC CỔ
+ CÁC LOẠI VĂN BẢN GIẤY TỜ KHÁC
Quang Huy không cho bất kỳ một sai sót nào trong bản dịch tiếng Hán Nôm
Văn bản Hán Nôm chủ yếu là văn bản viết tay, chủ yếu là chữ thảo nên việc nhận dạng chữ dễ bị nhầm lẫn dẫn đến phiên âm sai, dịch sai. Sách công cụ trong lĩnh vực Hán Nôm ở Việt Nam khá ít. Một chữ Hán có thể có nhiều nghĩa, người nghiên cứu tham khảo các nghĩa đó để sử dụng phù hợp vào bản dịch, vì thế khó có thể phản ánh đúng tinh thần nội dung nguyên tác. Khi đụng đoạn “bí”, người biên tập thường dịch qua loa, đại khái mà không bỏ công tìm hiểu, nghiên cứu để dịch đúng, dịch đủ.

C

giới thiệu về tiếng Hán Nôm

Giới thiệu sơ lược về văn tự Hán Nôm:
1. Một vài nét về lịch sử văn tự Hán Nôm
Theo truyền thuyết thì vua Phục Hy là người sáng tạo hệ thống vạch bát quái, là hình thức sơ khai của chữ tượng hình của người Hán (khoảng năm 3000 trước Công Nguyên). Tuy thực tế khảo cổ chỉ mới tìm được các chứng tích cổ nhất là văn tự"giáp cốt", niên đại khoảng 1.500 năm trước Công Nguyên, nhưng hệ thống văn tự này đã tương đối phức tạp, có lẽ thời điểm ra đời phải nhiều thế kỉ trước nữa.
Văn tự "giáp cốt" là một loại chữ cổ được khắc trên mai rùa (giáp) và xương thú (cốt). Nó là hình thức sơ khai của thể chữ "triện". Chữ " triện" ra đời vào khoảng năm 826-827 trước Công Nguyên, là sản phẩm do quan thái sử thời Chu Tuyên Vương là Sử Trựu sáng tạo ra. Đến thời nhà Tần chữ "triện" vẫn còn được sùng thượng.
Trình Mạo thời nhà Tần là người có công sáng chế ra "Lệ thư". Lúc ấy chữ Hán cổ mới có vào khoảng 3.000 chữ mà thôi. Tuy chữ Lệ xuất hiện từ thời Tần nhưng đến đời Hán mới được thông dụng.
Đến thời Tam Quốc, Chung Diêu mới sáng chế ra chữ "chân" hay còn gọi là chữ “khải”, được dùng làm kiểu chữ chính quy trong giấy tờ công văn nhà nước, chữ Hán từ đó được định hình có quy củ và giữ dạng này khá ổn định suốt hai nghìn năm lại đây.
"Hành thư" và "thảo thư" xuất hiện sau cùng, mà Vương Hi Chi, và Trương Chi là những người khởi xướng, nhưng những dạng viết “rồng bay phượng múa” đó có ý nghĩa về phương diện nghệ thuật thư pháp mà thôi.
Chữ Hán vào nước ta từ thời bắc thuộc, là văn tự chính thức của nước ta đến đầu thế kỉ 20. Từ thế kỷ 10 sau khi dành lại độc lập thì cũng bắt đầu hình thành chữ Nôm là thứ chữ dùng chữ Hán để ghi âm tiếng Việt, chữ Nôm phát triển cực thịnh khoảng thế kỷ 18-19, qua các tác phẩm Nôm như Chinh phụ ngâm diễn Nôm, Truyện Kiều … đặc biệt thời Tây Sơn 1789-1802 chữ Nôm đã được dùng làm chữ viết chính thức của nhà nước.
Suốt hàng nghìn năm chữ Hán là văn tự chính thức của nước ta, còn chữ Nôm tuy không là văn tự chính thức nhưng lại được dùng nhiều để sáng tác văn thơ... Khối lượng di sản văn học Hán Nôm để lại rất nhiều, cần có sự bảo quản, nghiên cứu, khai thác và phát huy. Hơn nữa trong văn viết tiếng Việt hiện đại các thành tố gốc Hán Việt chiếm quá nửa, và vẫn đang được phát triển nên rất cần có các từ điển Hán Việt tra cứu nghĩa gốc của chúng, hoàn toàn không phải vì mục đích học một thứ ngoại ngữ là Trung văn hiện đại.
2. Nguyên tắc cấu tạo chữ Hán Nôm
Có thể phân làm 4 loại lớn
- Tượng hình
- Chỉ sự
- Hài thanh hay “hình thanh”.
- Giả tá

Tuy gốc ban đầu là tượng hình nhưng khả năng biểu hiện của nó cũng hạn chế, nhất là những khái niệm trừu tượng không thể vẽ ra được, nên phải hình thành thêm loại chỉ sự để mô tả các khái niệm trừu tượng như thượng (上 trên), hạ (下 dưới) ... nhưng hai nhóm này đều có hạn chế về khả năng thể hiện nên chữ Hán cũng như Nôm về sau này chủ yếu chỉ phát triển loại hài thanh, mà nguyên tắc cơ bản là tạo chữ mới bằng cách ghép hai chữ có sẵn, tạo ra hai thành phần, một thành phần chỉ âm đọc, và một thành phần chỉ nghĩa. Còn chữ giả tá là mượn một chữ đã có sẵn và đồng âm để làm một chữ mới, nghĩa mới, vậy nó gần với loại hài thanh.
Thành phần chỉ nghĩa trong cấu tạo chữ hài thanh nói trên không phải tuỳ tiện mà đã được trí tuệ nhiều đời đúc kết tổng hợp và trừu tượng hoá, hệ thống hoá thành từng nhóm cơ bản gọi là “bộ thủ”, mỗi bộ thủ khái quát và thể hiện cho một lớp đối tượng hay sự vật cụ thể ví dụ bộ mộc 木 để chỉ về cây cối hay các vật dụng làm bằng gỗ; bộ tâm (tim 心 , 忄 ) thường chỉ các khái niệm tình cảm, tư tưởng .v.v.
Chữ Nôm cũng theo nguyên tác cấu tạo của chữ Hán, nhưng nó lại thiên về chức năng ghi âm, nên cách cấu tạo hình thanh chiếm vị thế chủ đạo. Ví dụ chữ “ăn 咹 ” gồm chữ Hán “an 安” chỉ âm ghép với bộ “khẩu 口 ” là miệng để chỉ ý, chữ khẩu thường còn có thêm chức năng cảnh báo cho người đọc là phải đọc chệch âm đi chứ không được đọc đúng âm gốc của chữ Hán hay Nôm bên cạnh.
Chữ Nôm từ xưa vốn không được quy chuẩn hoá, mạnh ai nấy viết, nên cùng một âm đọc, cùng chỉ một sự vật mà có thể có nhiều cách viết, chưa kể ngữ âm tiếng Việt vốn đã biến đổi qua các thời đại, chữ viết theo đó cũng thay đổi mà phát sinh dạng viết mới. Ví dụ chữ “trăng” âm việt cổ là “b-lăng” nên kiểu viết ghi âm cổ là “巴夌= ba+lăng”, về sau chữ “ba” đã được đổi thành bộ “nguyệt 月 ” để chỉ ý (mặt trăng), còn dạng viết cổ do âm đọc đã khác nhiều nên ít dùng nữa, nhưng các từ điển chữ Nôm vẫn ghi đủ các dạng này.
3. Cung cách viết chữ
Chữ Hán-Nôm khi viết kiểu chính quy (chữ chân, còn gọi là chữ khải) tạo thành từ một số nét cơ bản, mỗi lần nhấc bút khỏi mặt giấy được kể là một nét. Xưa có khoảng 8 loại nét nhưng hiện nay Trung Quốc đã khái quát hoá rút gọn còn 5 nét cơ bản là ngang, sổ (dọc), phảy, mác, và nét chiết (gãy).
Thứ tự thuận bút của chữ Khải là:
- Trên trước dưới sau
- Ngang trước sổ sau
- Phẩy trước mác sau
- Giữa trước hai bên sau
- Trái trước phải sau
- Ngoài trước trong sau
- Vào trước đóng sau
- Bộ xước và nét chấm vai viết sau cùng.
Cần phải nhắc tới những điều này vì khi tra cứu từ điển, loại cổ đại cũng như hiện đại, đều phải dựa rất nhiều vào việc xác định số nét, thứ tự nét, và kiểu dạng nét. Các phần mềm soạn thảo chữ Hán thường đều có kiểu gõ “bút hoạch” hoặc tương đương dùng để đánh chữ theo số nét, kiểu nét và thứ tự nét. Chẳng hạn các điện thoại di động NOKIA dòng S40 trở đi đều hỗ trợ tiếng Hoa, và có cung cấp kiểu gõ bút hoạch tiếng Hoa dựa trên 5 nét cơ bản đã nói ở trên.
4. Cung cách tra từ điển Hán Nôm:
- Các bộ tự điển chữ Hán thời xưa đều sắp theo bộ thủ: bộ thủ được xếp theo số nét của nó, còn các chữ trong từng bộ thì xếp theo số nét sau khi đã bỏ bộ thủ, cộng chung lại thì cũng là xếp theo tổng số nét. Nhưng việc xác định bộ thủ của một chữ không phải là dễ, có những chữ hình dạng rối rắm, các nét đan xen dính liền nhau không thể nhìn ra đâu là bộ thủ, vì vậy với loại tự điển này về sau người ta phải bổ sung thêm một bảng xếp theo tổng số nét của chữ mà không theo bộ, hoặc làm riêng một bảng tra cho những chữ khó xác định bộ, hoặc làm thêm bảng tra theo âm đọc (!)
- Đến thời hiện đại do Trung Quốc dùng chữ giản thể, trong kiểu viết giản thể các khái niệm bộ thủ truyền thống đã bị vi phạm nặng nề nên từ điển tra theo bộ ít còn hiệu quả, người ta phải phát triển các kiểu từ điển tra theo cách khác, như loại từ điển tra theo mã tứ giác, hay tra theo phiên âm Latin tiếng phổ thông TQ (gọi là âm Pinyin), chúng đều có những nhược điểm về mặt này hay khác, chưa có loại nào thay thế hẳn được kiểu tra bộ thủ truyền thống. Nhưng có lẽ loại từ điển xếp theo thứ tự viết 5 nét bút cơ bản nói ở phần trên có vẻ được ưa chuộng hơn cả (ví dụ TĐ của Lục Y Ngôn).
- Với chữ Nôm tình hình cũng gần như vậy, cuốn Bảng tra chữ Nôm (NXB KHXH 1976) và Từ điển chữ Nôm của Vũ Văn Kính được xếp theo tổng số nét, với cùng só nét thì chia ra theo các bộ (nhưng chỉ tương đối chứ không chính xác lắm) có phụ lục xếp theo âm đọc, cuốn Đại từ điển chữ Nôm của Vũ Văn Kính lại chỉ xếp theo âm đọc Nôm. Gần đây có cuốn xếp theo bộ thủ, nhưng do tác giả tự ý xếp đặt bộ chứ chưa tham khảo ý kiến rộng rãi các nhà chuyên môn hoặc do một cơ quan có thẩm quyền duyệt, rất dễ gây tranh cãi, không được thừa nhận.
- Xét một cách tổng quan thì cách tra chữ Hán – Nôm có thể quy về hai phương pháp chính là tra theo tự dạng (bộ thủ, hay nét bút) và tra theo âm đọc. Các phần mềm tra cứu chữ Hán - Nôm trên máy tính cũng theo nguyên tắc như trên.
Thông thường với chữ Hán thì các phần mềm cho 3 kiểu tra chính:
+ Tra theo bộ thủ cổ điển (thường browse như một cuốn sách TĐ điện tử)
+ Tra âm phổ thông Trung Quốc (âm Pinyin)
+ Tra âm Hán Việt.
Ngoài ra có các kiểu tra theo tổng số nét, tra âm Quảng Đông, tra mã Thương Hiệt, mã tứ giác .v.v. nhưng với người Việt không có mấy ý nghĩa.
Với chữ Nôm thì có hai kiểu tra chính:
+ Tra theo âm đọc (chữ quốc ngữ tiếng Việt)
+ Tra theo tổng số nét
Còn kiểu tra theo bộ thủ ít ý nghĩa vì chữ Nôm chưa được quy chuẩn rõ ràng về bộ thủ.